BILL GATES, HUYỀN THOẠI MỘT THẾ KỶ

BILL GATES, HUYỀN THOẠI MỘT THẾ KỶ

Bill Gates có vai trò vô cùng quan trọng trong bước chuyển kỳ diệu của ngành công nghệ thông tin đã thay đổi phương thức làm việc và khả năng tư duy của con người hiện đại, mở ra một kỷ nguyên mới liên kết toàn thế giới. Ông đã biến Microsoft thành một đế chế có sức chi phối đến hàng tỷ người trên hành tinh. Ngoài những lời ca tụng về việc trở thành một trong những doanh nhân thành công và giàu có nhất trong lịch sử thế giới, Bill Gates cũng nhận được vô số phần thưởng cho công việc từ thiện. Tạp chí Time đã vinh danh Gates là một trong những người có tầm ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ 20.

Thời thơ ấu
Bill Gates bắt đầu bộc lộ niềm đam mê lập trình máy tính ở tuổi 13, khi còn là cậu học sinh Trường Lakeside. Suốt cả thời gian ở Đại học Harvard, Gates tiếp tục theo đuổi niềm đam mê kỳ lạ này của mình. Với nỗ lực không ngừng đổi mới công nghệ, chiến lược kinh doanh sắc sảo và các chiến thuật cạnh tranh khốc liệt, ông và Paul Allen − bạn đồng môn ở Trường Lakeside đã xây dựng thành công công ty phần mềm lớn nhất thế giới, Microsoft. Không lâu sau đó, cùng với sự lớn mạnh của Microsoft, Bill Gates trở thành tỷ phú trẻ nhất nước Mỹ.
Ông sinh ngày 28/10/1955 tại Seattle, Washington, Mỹ với tên đầy đủ William Henry Gates III. Ông lớn lên trong một gia đình khá giả (mẹ thuộc tầng lớp thượng lưu, bố thuộc tầng lớp trung lưu) cùng với chị gái Kristianne và cô em gái Libby. Cha mẹ ông gặp nhau từ thời sinh viên và tình yêu nảy nở giữa hai con người tưởng chừng trái ngược nhau. Hồi ấy, cha Bill Gates, William H. Gates Jr là một sinh viên luật thông minh, tài năng nhưng tính tình nhút nhát và kín đáo trong khi mẹ Bill Gates, Mary Maxwell là một nữ sinh sôi nổi, hoạt bát của Đại học bang Washington.

Không khí trong gia đình Gates luôn luôn ấm cúng. Cả ba người con đều được khích lệ phải luôn luôn có tính cạnh tranh và tinh thần phấn đấu để đạt được thành tích xuất sắc. Bill Gates đã sớm bộc lộ những dấu hiệu của tính cạnh tranh khi cậu bé liên tục tổ chức các trò chơi thể thao của gia đình tại ngôi nhà nghỉ ở Puget Sound. Cậu cũng hay chơi cờ và rất giỏi trò Monopoly. Gates rất thích những trò chơi mang tính mạo hiểm, tốc độ cao và nhiều sáng tạo.
Trong gia đình, Bill Gates là người gần gũi với mẹ nhất. Mẹ cậu sau một thời gian ngắn làm giáo viên, đã quyết định nghỉ việc để dành thời gian nuôi dạy con cái, tham gia các công việc xã hội và làm từ thiện. Ngoài ra, bà tham gia hội đồng quản trị của một số công ty, trong đó có United Way, IBM và Ngân hàng First Interstate ở Seattle – một ngân hàng mà ông ngoại bà là thành viên sáng lập. Khi tham gia làm tình nguyện viên ở các trường học và các tổ chức cộng đồng bà thường đưa Bill Gates đi cùng.

Ngay từ khi còn nhỏ Gates đã say mê đọc sách. Cậu đã dành nhiều giờ đồng hồ đọc hết các cuốn sách tham khảo như bộ sách bách khoa toàn thư. Khi Gates 12 tuổi cha mẹ cậu bắt đầu quan tâm đến hành vi của con trai. Ở trường cậu học rất giỏi nhưng lại luôn trầm tư và sống khép kín. Cha mẹ cậu lo lắng con trai họ sẽ trở thành một người cô độc. Mặc dù họ là những người tin tưởng mạnh mẽ vào nền giáo dục công nhưng khi Bill 13 tuổi, bố mẹ cậu vẫn quyết định cho con dự tuyển vào Trường Lakeside ở Seattle, một trường tư thục nam sinh nổi tiếng với môi trường học tập cực kỳ khắc nghiệt. Tại trường Gates học giỏi tất cả các môn, đặc biệt là toán. Cậu luôn trả lời chính xác những câu hỏi lắt léo, giành điểm cao nhất, thường tham gia tranh tài môn toán, cậu cũng là người nhiều lý lẽ trong tranh luận. Gates hay bực bội với những ai không nhanh trí như mình, kể cả giáo viên. Đó cũng là đặc điểm khiến nhiều bạn không ưa Gates.

Nung nấu ý chí quyết tâm, tinh thần ganh đua cao độ và ước muốn phải trở thành nhân vật số một, Gates luôn hoàn thành tất cả các bài tập trong ngày, kể cả môn nhạc hay hài kịch. Và Gates đã trở thành học sinh đứng đầu Trường Lakeside. Cũng tại mái trường này, tài năng và niềm đam mê sáng tạo với máy tính được hun đúc và thổi bùng thành ngọn lửa bùng cháy trong cậu mà cả gia đình không ai nghĩ tới.

Mùa xuân năm 1968, khi Gates gần kết thúc năm học đầu tiên ở Lakeside thì nhà trường đã quyết định cho học sinh tham gia khám phá thế giới máy tính vô cùng mới mẻ và kỳ thú. Thế nhưng để sở hữu được một chiếc máy tính là điều khó khăn và vượt quá khả năng đối với ngân sách của trường mặc dù lúc đó Lakeside là trường điểm danh tiếng nhất nước Mỹ. Cuối cùng nhà trường quyết định mua chiếc máy teletype với chi phí hợp lý. Người sử dụng có thể gõ lệnh lên máy teletype và liên lạc thông qua đường điện thoại với một máy tính mini PDP-10, ở trung tâm thành phố Seattle.

Khi sử dụng máy tính các học sinh thường phải trả chi phí rất đắt. Do đó Câu Lạc bộ các bà mẹ đã dùng tiền từ việc bán các vật dụng cũ và quyên góp được khoảng 3.000 đô-la để trả cho học sinh. Lakeside trở thành trường đi tiên phong trong việc sử dụng máy tính làm phương tiện giảng dạy. Ngay từ đầu phòng máy tính đã thu hút toàn bộ học sinh thông minh nhất của trường. Đặc biệt là cậu bé Bill Gates, cậu say mê và quan sát tỉ mỉ trong giờ học toán. Sau khi thực hiện một vài lệnh đầu tiên, cậu vô cùng kinh ngạc và thích thú chiếc máy teletype còn hơn cả những truyện khoa học viễn tưởng. Mỗi khi rảnh Bill Gates lại đến phòng máy tính, say mê tìm hiểu. Chương trình đầu tiên cậu viết cho máy tính là trò chơi tic-tac-toe bằng ngôn ngữ BASIC.

Ở Lakeside, cậu bé Bill Gates đã gặp gỡ và kết thân với Paul Allen, người bạn lớn hơn hai tuổi. Họ trở thành đôi bạn thân có chung niềm đam mê máy tính cháy bỏng mặc dầu ở họ có những điểm khác biệt trong tính cách. Allen kín đáo và nhút nhát hơn. Gates thì hăng hái và luôn luôn hiếu thắng. Họ đã dành nhiều thời gian cùng làm các chương trình máy tính và bàn về tương lai của ngành này. Thỉnh thoảng giữa họ lại xảy ra xung đột về việc ai đúng ai sai hay việc ai phải điều hành phòng máy như thế nào. Có một lần tranh luận của họ căng thẳng đến mức Allen đã cấm Gates không được đến phòng máy.

Sau đó Gates đề xuất với nhóm lập trình của Lakeside về việc kết hợp làm ăn với các công ty máy tính. Họ được Computer Center Corporation mời hợp tác với điều kiện các cậu được dùng máy miễn phí. Thế nhưng nhóm lập trình này liên tiếp gây ra những rắc rối cho công ty. Một lần nhóm đã phá hệ thống bảo mật của PDP-10 và truy cập vào các hồ sơ kế toán của công ty. Các cậu tìm ra tài khoản cá nhân của mình và tự động giảm đi số giờ dùng máy nhưng cuối cùng thì cũng bị công ty phát hiện. Vì thế công ty cấm bốn học sinh Trường Lakeside trong đó có cả Bill Gates và Paul Allen không được sử dụng hệ máy tính này trong sáu tuần.

Năm 1971, công ty máy tính Information Sciences, Inc đã thuê nhóm lập trình của Trường Lakeside viết một chương trình trả lương bằng ngôn ngữ COBOL. Công ty cho phép họ sử dụng máy tính và bản quyền phần mềm của công ty. Biết được khả năng lập trình của Gates, người quản lý ở trường giao nhiệm vụ cho cậu viết một chương trình lập thời khóa biểu cho các lớp học.

Sau khi Allen tốt nghiệp Trường Lakeside và ghi danh vào Đại học Washington, anh cùng Gates bắt đầu lập công ty với tên gọi là Traf-o-Data. Gates và Allen đã nghĩ ra việc lập trình một chương trình nhằm phân tích băng giấy đếm lưu lượng giao thông trên đường rồi bán thông tin cho các chính quyền đô thị với giá rất rẻ. Những nỗ lực ban đầu ấy đã thu về cho công ty 20 ngàn đô-la. Hai người bạn muốn tiếp tục phát triển công ty của mình nhưng cha mẹ Gates lại muốn anh theo học ngành luật để trở thành một luật sư.

Năm 1973, Bill Gates tốt nghiệp Trường Lakeside. Tại kỳ thi SAT anh đạt 1590 điểm trên 1600. Điểm số này là một thành tựu đáng nhớ về học tập của Gates trong những năm học Trường Lakeside. Anh được ghi danh vào trường Harvard mùa thu năm 1971.

Bill Gates thời lập nghiệp

Khởi đầu sự nghiệp
Tại trường đại học Harvard, Bill Gates theo học ngành luật nhưng cậu lại dành nhiều thời gian tìm hiểu về máy tính hơn. Mỗi khi đến kỳ thi, Gates chỉ dành vài giờ học đối phó.

Thời gian học ở trường, Gates vẫn duy trì mối liên lạc thường xuyên với Paul Allen. Về phía Allen, theo học ở trường Đại học Bang Washington được hai năm thì anh bỏ học và làm việc cho công ty Honeywwell ở Boston thuộc Bang Massachusetts. Mùa hè năm 1974, Gates cũng tham gia làm việc cho Honeywell cùng với Allen. Trong thời gian làm việc ở đây, Allen đã giới thiệu với Gates ấn bản tạp chí Điện tử Phổ thông với một bài báo viết về máy MITS Altair 8800 trên nền vi xử lý Intel 8080.

Nhận thấy triển vọng của dòng máy tính này, Gates và Allen quyết định mở một công ty riêng. Máy tính Altair do công ty Micro Instrumentation và Telemetry Systems (MITS) ở Albuquerque, New Mexico sản xuất. Gates và Allen đã liên hệ trực tiếp với công ty và tuyên bố với họ rằng các cậu có thể triển khai chương trình phần mềm BASIC điều hành máy tính Altair. Thực tế, họ chưa hề sử dụng Altair và cũng chưa có mã nguồn để chạy dòng máy này. Nhưng họ muốn biết xem MITS có quan tâm đến việc sẽ có người phát triển phần mềm tương tự như thế không. MITS và chủ tịch của công ty này, ông Ed Roberts đã yêu cầu hai cậu chứng minh điều các cậu nói. Thế là Gates và Allen bắt tay vào công việc, họ dành hai tháng nỗ lực viết phần mềm tại phòng máy ở trường Harvard. Sau đó Allen đến Albuquerque để thử tại MITS. Chương trình chạy hoàn hảo. Ngay lập tức Allen được mời về làm việc cho MITS và chẳng bao lâu sau Gates cũng bỏ trường Harvard về làm việc cùng Allen. Việc rời bỏ một trường đại học danh tiếng nhất nước Mỹ khiến cho cha mẹ Gates ban đầu rất buồn.

Năm 1975, Microsoft ra đời với tên ban đầu Micro-soft (Micro-soft là sự kết hợp của “micro-computer” và “software”), gần một năm sau dấu gạch ngang được xóa bỏ và tên thương hiệu được chính thức đăng ký tại Văn phòng bang New Mexico ngày 26 tháng 11 năm 1976. Sau này nhiều người cho rằng Microsoft chính là Traf-O-Data được đổi tên, nhưng thực tế không phải vậy. Hai công ty này hoạt động độc lập và luôn có tỷ lệ ăn chia riêng biệt. Ban đầu Microsoft thỏa thuận theo quy ước 60/40, nghiêng về phía Gates vì giai đoạn đầu phát triển BASIC anh đã bỏ công sức nhiều hơn. Sau đó tỷ lệ này được đổi thành 64/36 khi Microsoft phát hành cổ phiếu năm 1986, Gates sở hữu hơn 11 triệu, còn Allen hơn 6 triệu cổ phần.

Thời gian đầu, mặc dù chương trình phần mềm BASIC cho máy tính Altair đã mang lại thù lao và tiền bản quyền cho công ty nhưng vẫn không đủ để đáp ứng được chi phí hoạt động. Phần mềm BASIC của Microsoft trở nên phổ biến đối với giới ham mê máy tính thật sự. Tuy nhiên, những người này đã lấy được những bản copy trước khi nó được tung ra thị trường. Ngay lập tức chúng bị sao chép và phân tán rộng rãi.

Khi Gates nhận ra phần mềm BASIC bán không chạy là do người sử dụng kiếm được bản sao không mất tiền, anh vô cùng bực bội, nản chí đến nỗi đề nghị bán đứt cho Robert-chủ tịch MITS với giá khoảng 6.500 đô-la. Nhưng Robert từ chối bởi anh hiểu và thông cảm với Gates. Anh rất khâm phục cả Gates lẫn Allen nên không hề có ý lợi dụng họ. Chỉ chút nữa thì Gates mắc phải một sai lầm lớn trong kinh doanh.

Theo bản báo cáo của Gates sau này, chỉ 10% số người sử dụng BASIC trong máy tính Altair thực sự trả tiền cho phần mềm. Lúc này, phần lớn trong số những người say mê máy tính cá nhân là những người sử dụng không mất tiền. Sự dễ dàng trong việc sao chép và phát tán khiến cho họ sẵn sàng chia sẻ với bạn bè và những người ham mê máy tính khác. Còn bản thân Bill Gates thì cho rằng việc sử dụng phần mềm không mất tiền giống như kẻ ăn cắp, đặc biệt những phần mềm được sản xuất để bán.

Tháng 2 năm 1976, Gates viết một bức thư ngỏ cho những người say mê máy tính, trong thư có nói rằng việc tiếp tục phát tán và sử dụng phần mềm mà không trả tiền sẽ “ngăn cản sự sáng tạo những phần mềm tốt.” Điều cơ bản là, việc ăn cắp phần mềm sẽ làm nản lòng những người sáng tạo, khiến họ không còn hứng thú đầu tư thời gian, tiền bạc cũng như công sức để sáng tạo phần mềm chất lượng cao. Anh cho rằng những kẻ ăn cắp phần mềm là những kẻ bất lương, và rằng những người bán lại phần mềm BASIC “làm ô danh giới hâm mộ và cần phải tống ra khỏi những buổi họp mặt câu lạc bộ máy tính”. Bức thư được đăng tải trên bản tin Altair và hầu hết các ấn phẩm lớn trong ngành. Lá thư có những tác động thực sự tích cực đối với nạn ăn cắp bản quyền cho dù còn có một vài dư luận trái chiều. Sau đó Gates tiên đoán rằng BASIC sẽ trở thành nền tảng cho sự phát triển các chương trình ứng dụng lý thú cho máy tính trong giai đoạn tiếp theo.

Vào tháng 1 năm 1977, mối quan hệ của Microsoft với MITS bắt đầu có những căng thẳng. Giữa Gates và chủ tịch Ed Roberts liên tiếp xảy ra xung đột. Có lần Gates bực tức đến nỗi đấm vào mặt Robert. Không lâu sau Roberts bán MITS cho công ty máy tính Pertc với giá trị hàng triệu đô-la để trở về Georgia theo học ngành y và trở thành bác sĩ gia đình. Gates và Allen khởi kiện ông chủ mới của MITS để giành lại bản quyền phần mềm mà họ đã phát triển cho Altair.

Microsoft tiếp tục viết phần mềm theo nhiều format khác nhau cho các công ty máy tính. Cuối năm 1978, Gates chuyển công ty đến Bellevue, Washington. Giai đoạn này công ty có 25 nhân viên, tất cả đều làm việc say mê và đầy trách nhiệm. Họ tham gia tất cả các khâu, từ hoạt động, phát triển sản xuất, phát triển kinh doanh đến tiếp thị. Bằng việc kết hợp hiếm hoi giữa tài năng kỹ thuật với sự nhạy bén về quản lý kinh doanh, Gates đã điều hành Microsoft với tổng doanh thu vượt bậc vào năm 1978 là 2,5 triệu đô-la. Khi đó Gates mới 23 tuổi.

Đường đến thành công của Microsoft
Gates trở thành nhà quản lý thành công bằng sự nhạy bén cả trong cả kỹ thuật lẫn kinh doanh và là người phát ngôn chính của công ty. Anh xem xét từng dòng code mà công ty chuyển đến, và thường xuyên viết lại code khi thấy cần thiết. Khi ngành công nghệ máy tính phát triển và xuất hiện những công ty như Apple, Intel, và IBM sản xuất phần cứng và các thiết bị cấu thành, Gates liên tục đi giới thiệu về các sản phẩm đáng giá của những ứng dụng phần mềm Microsoft. Anh thường đưa mẹ mình đi cùng. Bà Mary đánh giá cao và kết nối thành công với các thành viên ở nhiều hội đồng công ty, trong đó có IBM. Thông qua bà, Bill Gates đã gặp CEO của IBM.

Tháng 10 năm 1980, IBM đang tìm kiếm phần mềm có thể điều hành máy tính cá nhân (PC) sắp ra mắt của họ và công ty đã tiếp cận với Microsoft. Có một chuyện hết sức đáng nhớ là lần đầu tiên gặp Bill Gates, có người ở IBM tưởng anh là nhân viên phụ tá văn phòng nên đã yêu cầu anh phục vụ cà phê. Khi đó Gates trông còn rất trẻ nhưng anh đã nhanh chóng tạo ấn tượng mạnh mẽ với IBM và điều đó thuyết phục IBM rằng anh và công ty của anh có thể đáp ứng được nhu cầu của họ. Vấn đề khó khăn duy nhất là Microsoft chưa phát triển được hệ điều hành cơ bản để chạy các máy tính của IBM. Tuy nhiên, Gates không hề dừng lại, anh đã mua một hệ điều hành được phát triển để chạy trên những chiếc máy tính tương tự như máy của IBM. Anh thương lượng với người phát triển phần mềm để Microsoft trở thành đại lý cấp phép độc quyền và sau đó là chủ sở hữu hoàn toàn đối với 86-DOS, một hệ điều hành tương tự như CP/M do Tim Peterson của hãng Seattle Computer Products (SCP) viết cho các phần cứng có tính năng tương tự như PC.

Gates phải điều chỉnh phần mềm mới được mua để làm việc cho PC của IBM. Anh đưa ra giá 50 ngàn đô-la, bằng với giá mua phần mềm ban đầu. IBM muốn mua mã nguồn để có thể cung cấp thông tin cho hệ điều hành nhưng Gates từ chối, thay vào đó anh đề xuất IBM trả phí cấp phép cho các bản copy phần mềm được bán cùng với máy tính của họ. Thực hiện việc này cho phép Microsoft cấp phép phần mềm mà họ gọi là MS-DOS cho bất kỳ công ty sản xuất máy tính PC nào. Điều mà sớm muộn các công ty khác có thể làm là họ sẽ nhân bản máy tính của IBM. Microsoft cũng cho ra mắt phần mềm có tên gọi là Softcard, cho phép Microsoft BASIC điều hành các sản phẩm Apple II.

Các năm 1978 đến 1981, Microsoft phát triển đội ngũ nhân viên từ 25 người đã lên tới 128 người. Doanh thu cũng tăng từ 4 triệu đô-la lên tới 16 triệu đô-la. Tháng 6 năm 1981, Gates và Allen cơ cấu lại công ty. Bill Gates được bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc điều hành. Allen làm phó tổng giám đốc điều hành.

Năm 1983, Microsoft bắt đầu mở các văn phòng đại diện trên toàn cầu. Thị trường đầu tiên Gates nhắm tới là Anh Quốc và Nhật Bản. Khoảng 30% số lượng máy tính trên thế giới chạy bằng phần mềm của Microsoft. Cũng trong năm này, có một tin làm chấn động Microsoft, Paul Allen được chẩn đoán bị bệnh U lympho Hodgkin. Sau một năm điều trị tích cực, mặc dù bệnh tình của anh đã có phần thuyên giảm nhưng Allen vẫn xin rút khỏi công ty. Lúc này xuất hiện vô số lời đồn đại về việc tại sao Allen rời khỏi Microsoft. Có một số người cho rằng Bill Gates đã đẩy anh ra khỏi công ty, nhưng nhiều người khác lại cho rằng Allen muốn thay đổi và tìm những cơ hội khác.

Phát minh ra hệ điều hành Windows của Microsoft
Mặc dù sự ganh đua của Microsoft và Apple rất lớn và liên tục nhưng thời kỳ đầu họ từng chia sẻ nhiều sáng tạo. Năm 1981, Apple mời Microsoft giúp hãng này phát triển phần mềm cho máy tính Macintosh của hãng. Một số nhà sản xuất được tham gia vào cả phát triển phần mềm Microsoft và phát triển những ứng dụng cho dòng máy tính Macintosh. Việc hợp tác giữa hai công ty được thể hiện trong một số sản phẩm mang thương hiệu chung giữa Microsoft và hệ thống Macintosh. Nhờ quá trình phát triển những ứng dụng này, Microsoft tìm ra hướng phát triển hệ điều hành Windows. Đây là một hệ điều hành sử dụng chuột máy tính để điều khiển giao diện đồ họa, trình bày văn bản và hình ảnh trên màn hình.

Bill Gates nhanh chóng nhận ra rằng loại phần mềm này có thể đại diện cho MS-DOS và toàn thể Microsoft. Đối với người dùng đơn giản, thứ mà người mua nhiều nhất là hình ảnh đồ họa của phần mềm VisiCorp sẽ dễ sử dụng hơn nhiều. Gates đã thông báo trong một chiến dịch quảng cáo rằng hệ điều hành Microsoft mới chuẩn bị được phát triển và sẽ sử dụng giao diện đồ họa. Nó sẽ có tên gọi là “Windows,” và tương thích với tất cả các sản phẩm phần mềm của máy tính cá nhân chạy trên hệ thống MS-DOS. Được coi như một chiến thuật tiếp thị thành công, thật kỳ diệu là gần 30 % thị trường máy tính đang sử dụng hệ điều hành MS-DOS đã chờ sự ra đời của hệ điều hành Window thay vì việc họ chuyển sang dùng một hệ điều hành khác.

Tháng 11 năm 1985, gần hai năm kể từ khi thông báo với người dùng, Bill Gates và Microsoft tung ra sản phẩn Windows. Bề ngoài hệ điều hành Windows rất giống với hệ điều hành Macintosh mà công ty Apple (có sự tham gia của đội lập trình Microsoft) đã đưa ra gần hai năm trước đó. Gates đã từng khuyên Apple nên xin bảo hộ bản quyền cho phần mềm Macintosh nhưng họ đã không để tâm tới mà chỉ chú trọng đến việc bán máy tính. Sự thành công vang dội của hệ điều hành Windows đã đẩy Apple vào tình trạng khó khăn. Apple quay sang kiện Microsoft còn Microsoft thì trả đũa bằng cách trì hoãn việc chuyển phần mềm tương thích của Microsoft cho những khách hàng dùng Macintosh. Cuối cùng Microsoft thắng kiện bởi công ty chứng tỏ được rằng mặc dù có những điểm giống nhau trong cách thức hoạt động của hai hệ điều hành nhưng tính năng của chúng lại hoàn toàn khác biệt.

Ngày 13/3/1986, cổ phiếu Microsoft được bán công khai trên thị trường Chứng khoán New York lần đầu tiên, mở cửa với mức giá 25,75 đô-la một cổ phần. Dường như ngày hôm đó mọi người chỉ đổ sô vào mua cổ phiếu của Microsoft.

Gates nắm giữ 45%, tương đương với 24,7 triệu cổ phiếu. Giá trị cổ phiếu của Gates ước tính 234 triệu đô trong tổng số 520 triệu đô của toàn bộ Microsoft. Một năm sau khi cổ phần hóa đại chúng, tháng 3 năm 1987, cổ phiếu Microsoft lên tới 90,75 đô, Bill Gates trở thành tỷ phú ở tuổi 31. Chưa có ai trong lịch sử nước Mỹ, từ những nhà đại tư bản và tài chính của thế kỷ XIX cho đến các nhà công nghiệp hiện đại lại kiếm được số tiền khổng lồ như thế ở độ tuổi này kể từ đó.

Nguồn: Sưu tầm